Hồi lâu sau, bà mới lẩm bẩm: “Thế… thế xa lắm…”
“Xa mới tốt.” Tôi siết chặt tay bà, “Xa đến mức không ai có thể tìm thấy chúng ta, xa đến mức không ai có quyền chỉ trỏ vào cuộc sống của chúng ta, xa đến mức mẹ có thể ngắm núi tuyết và mặt hồ mỗi ngày, không cần phải nghe bất kỳ ai nói ‘Bà là người khác họ’ nữa.”
“Nhưng mà… bên chỗ bà nội con…”
“Bà ấy có ba căn shophouse cho mẹ không?” Tôi ngắt lời bà, giọng vẫn bình thản, “Bà ấy chỉ nhớ đến mẹ khi cần thôi. Mẹ, ba mươi năm vẫn chưa đủ sao? Bố con mất mười bảy năm rồi, mẹ làm người ngoài ở nhà họ Khương ba mươi năm. Đủ rồi.”
Nước mắt từ khóe mắt bà lăn dài, im lìm không tiếng động.
Bà không khóc thành tiếng, chỉ mặc cho nước mắt tuôn rơi, đây là cách khóc mà bà đã quen thuộc suốt ba mươi năm qua — lặng lẽ, không làm phiền đến ai.
Tôi ôm lấy bà, người phụ nữ gầy gò, đã nhẫn nhịn cả một đời vì tôi.
“Lần này nghe con,” tôi nói, “Chúng ta đến một nơi hoàn toàn mới, bắt đầu lại từ đầu. Mẹ mới năm mươi tư tuổi, cuộc đời vẫn còn một nửa. Chúng ta có thể học làm bánh, có thể trồng hoa, có thể mở một quán mì nhỏ bên hồ Wakatipu, mẹ muốn làm gì cũng được. Nhưng đừng ở lại Hoài Thành nữa, đừng sống dưới bóng ma của Tiền Thục Hoa nữa.”
Bà run rẩy trong vòng tay tôi.
Rồi, rất khẽ, bà gật đầu.
Đêm đó, tôi ngủ một giấc sâu nhất trong mười năm qua.
Không nằm mơ, không tỉnh dậy giữa chừng để kiểm tra điện thoại, không nghĩ đến báo cáo hoạt động của công ty.
Chỉ là một màn đêm đen thăm thẳm.
Tỉnh dậy sẽ có rất nhiều việc phải làm: bàn giao công ty, chuyển dịch tài sản, hồ sơ xin visa, đóng gói hành lý.
Còn về chuyện từ biệt — chẳng có ai cần phải thực sự từ biệt cả.
Về phần bà nội, bà Tiền Thục Hoa, bà đã có ba căn shophouse tái định cư, có một đứa cháu gái cưng sắp sửa lấy chồng vẻ vang, có một cậu con rể làm phó cục trưởng, có “thể diện nhà họ Khương” mà bà cất công gìn giữ.
Bà có mọi thứ.
Thế nên, chắc bà sẽ không bận tâm nếu bớt đi một đứa cháu gái “không hiểu chuyện” và một cô con dâu “khác họ” đâu.
Tin tôi bán công ty lan truyền nhanh hơn tôi tưởng.
Vào ngày thứ ba sau khi ký tên, cuộc gọi của cô tôi – Khương Quế Trân – đã réo tới.
Đó là một buổi sáng thứ tư, tôi đang dọn dẹp đồ đạc cá nhân ở công ty, văn phòng đã trống được một nửa, thùng giấy xếp đống ở góc tường.
“Khương Vãn, cháu đủ lông đủ cánh rồi phải không?” Giọng cô the thé chói tai, “Không nói một tiếng đã bán công ty, trong mắt cháu còn có bề trên không hả? Bà nội cháu tức đến mức không thèm ăn tối kia kìa!”
Tôi bỏ một xấp tài liệu vào thùng giấy, bật loa ngoài: “Cô có việc gì thì nói thẳng đi.”
“Cháu có thái độ gì thế hả!”
Cô cao giọng, “Cô nói cho cháu biết, ngày hai mươi tháng sau Mộng Dao tổ chức đám cưới ở Khách sạn Quốc tế Hoài Thành, cháu bắt buộc phải về. Cháu là chị, phong bao không được dưới mười vạn, ở tiệc cưới cũng phải lo chống lưng cho Mộng Dao. Còn nữa, mẹ cháu cũng phải về phụ giúp, họ hàng bạn bè đông, dưới bếp thiếu người…”
Tôi dừng tay.
“Chúng tôi không về được.” Tôi nói, “Tháng sau tôi và mẹ ở New Zealand rồi.”
Đầu dây bên kia im lặng hai giây, sau đó nổ tung: “New Zealand? Cháu nói cái gì? Khương Vãn, cô nói cho cháu biết, đừng tưởng có vài đồng tiền hôi hám là muốn bay lên trời! Cháu là người nhà họ Khương, chuyện lớn như đám cưới Mộng Dao mà cháu dám không về, sau này đừng hòng bước chân vào cửa nhà họ Khương nữa!”
Tôi cầm điện thoại lên, tắt loa ngoài, áp vào tai: “Cô à, lúc sang tên ba căn shophouse ở phố cổ, cô và bà nội có nghĩ tôi là người nhà họ Khương không?”
“Cháu…”
Cô cứng họng, giọng dịu đi một chút, nhưng vẫn cứng rắn, “Thế có giống nhau được không? Mộng Dao lấy chồng, cần có chút vốn liếng lót tay. Cháu là con gái một thân một mình bươn chải ở Thâm Quyến, cần nhiều mặt bằng như thế làm gì? Hơn nữa, bà nội nói rồi, sau này cháu kết hôn, nhà họ Khương cũng sẽ chuẩn bị của hồi môn cho cháu.”
“Chuẩn bị cái gì?” Tôi bật cười, “Lấy đồ Mộng Dao xài thừa cho tôi à?”
“Khương Vãn! Cháu nói năng kiểu gì đấy!”
“Vậy thôi nhé cô,” tôi nói, “Đám cưới chúng tôi không đi, tiền mừng cũng không có. Cô bảo với bà nội, ăn không ngon miệng thì ăn đồ thanh đạm một chút, dù sao tiền thuê ba căn shophouse cũng đủ mời bảo mẫu rồi.”
Tôi cúp máy, chặn số của cô ta.
Lúc tiếp tục dọn dẹp, tay tôi hơi run. Không phải vì tức giận, mà là cái cảm giác mệt mỏi, lạnh lẽo quen thuộc, rỉ ra từ tận kẽ xương.
Bao nhiêu năm rồi, bọn họ đến lời thoại cũng lười đổi.
Hai giờ chiều, luật sư đến.
Luật sư Ngô là cố vấn pháp lý đã hợp tác với tôi nhiều năm, nói chuyện luôn điềm đạm. Anh đưa cho tôi một tệp tài liệu: “Sếp Khương, về ba căn shophouse tái định cư ở phố cổ Hoài Thành, tôi đã tham khảo ý kiến đồng nghiệp ở đó. Xét trên khía cạnh pháp luật, cô và mẹ cô hoàn toàn có quyền khởi kiện. Mặc dù trên sổ đỏ ghi tên bà nội cô, nhưng đền bù giải tỏa là chia theo sổ hộ khẩu, mỗi nhân khẩu tương ứng với một quyền sở hữu. Mẹ cô, bản thân cô, mỗi người có quyền sở hữu hợp pháp đối với một mặt bằng.”
Tôi lật xem tài liệu, nhìn những điều khoản pháp luật chằng chịt.
“Cơ hội thắng bao nhiêu?”
“Trên bảy mươi lăm phần trăm.” Luật sư Ngô đẩy gọng kính, “Nhưng mà, những vụ tranh chấp tài sản gia đình kiểu này, một khi đã theo trình tự pháp luật thì sẽ xé rách mặt nhau hoàn toàn. Thời gian kiện tụng ngắn thì nửa năm, dài thì một hai năm. Cô có chắc muốn…”
Bên ngoài cửa sổ lại bắt đầu mưa.
Tôi gập tài liệu lại, đẩy sang một bên.
“Bỏ đi.”