Mức lương từ hơn mười nghìn tăng lên hơn năm mươi nghìn, tiền đặt cọc mua nhà là do tôi tự tích cóp từng chút một. Cuộc sống dần đi vào quỹ đạo, cuối cùng tôi cũng có một tổ ấm nhỏ của riêng mình ở thành phố này.
Về chuyện của đứa em gái, tôi biết được qua lời kể của một người họ hàng xa.
Hôm đó tôi đi dự đám cưới chị họ, tình cờ gặp dì, dì kéo tôi lại thì thầm: “Dạo này bố mẹ cháu làm ầm ĩ lắm, mẹ cháu lại đẻ thêm một đứa nữa.”
Tôi sững sờ ngay tại chỗ, trong đầu như đột nhiên trống rỗng một mảng.
Dì ghé sát vào tôi nói tiếp: “Sản phụ lớn tuổi, cố sống cố chết mà đẻ. Nghe bảo lúc mang thai dăm bữa nửa tháng lại phải chạy vào viện. Bố cháu thì mừng rỡ ra mặt, bảo nhà thêm con thêm cái, náo nhiệt hơn hẳn.”
Tôi không hỏi cặn kẽ thêm, nhưng dạ dày như bị đè nặng bởi một hòn đá.
Không phải tôi cấm cản họ sinh thêm con, mà là tôi quá hiểu, ở cái nhà đó, thêm một đứa trẻ đồng nghĩa với điều gì – là những rắc rối mới, là gánh nặng mới, và lại là những câu “mày phải thế nọ thế kia”.
Tôi không về thăm đứa trẻ đó, thậm chí còn không mường tượng nổi con bé trông như thế nào. Về nó, ấn tượng duy nhất tôi chắp vá được toàn là qua lời kể vụn vặt của họ hàng: gầy, rất trầm tính, nhát gan, còn có người bảo nó giống tôi hồi bé.
Nghe vậy, tôi chỉ thấy tim thắt lại, không diễn tả được là cảm giác gì.
Cho đến một tháng trước, là họ chủ động tìm đến tôi.
Không phải nhờ họ hàng nhắn gửi, cũng chẳng phải vì “nhớ tôi”, mà là gửi thẳng đến một tờ thư luật sư.
Hôm đó tôi đang chủ trì cuộc họp giao ban trong phòng họp, lễ tân gọi điện lên nói có giấy tờ của tòa án yêu cầu tôi ký nhận.
Lúc tôi xuống lầu, cô bé lễ tân đưa tập tài liệu qua, giọng vẫn lịch sự: “Chị ơi, phiền chị ký vào đây giúp em.”
Nhìn thấy bốn chữ to đùng “Đơn khởi kiện dân sự” in trên trang bìa, tim tôi thót lên một cái.
Ở mục người khởi kiện ghi tên bố mẹ tôi, mục bị đơn là tôi.
Yêu cầu khởi kiện được viết rành rành: Yêu cầu tôi mỗi tháng chu cấp ba mươi nghìn tệ tiền nuôi dưỡng. Lý do là bố mẹ đã lớn tuổi, thu nhập có hạn, nuôi cô con gái năm tuổi quá áp lực; trong khi tôi làm ở tập đoàn lớn hưởng lương cao, hoàn toàn có khả năng gánh vác.
Tôi đứng giữa sảnh lớn, gió lạnh từ điều hòa trung tâm thổi qua khiến người nổi cả da gà. Nhưng khoảnh khắc ấy, tôi lại bình tĩnh đến lạ thường, bình tĩnh như đang xem hồ sơ vụ án của nhà người khác.
Tối về căn hộ, tôi trải đơn khởi kiện lên bàn ăn, lật xem từng trang một.
Đến trang cuối cùng, tôi nhìn thấy những bằng chứng họ nộp lên: ảnh chụp màn hình sao kê tiền lương mấy tháng gần đây của tôi, giấy chứng nhận làm việc của công ty, thậm chí cả bản in phần giới thiệu chức vụ của tôi trên mạng nội bộ công ty.
Tôi làm việc ở đâu, mỗi tháng kiếm được bao nhiêu, họ điều tra rõ như lòng bàn tay.
Nhưng sáu năm qua, họ chưa từng hỏi một câu: Con ở bên đó sống thế nào, ăn có no không, có mệt không?
Tôi gửi cho mẹ một tin nhắn – tôi biết bà chắc chắn vẫn giữ một số điện thoại hay dùng.
Tôi chỉ gõ đúng năm chữ: “Sao bố mẹ phải làm vậy?”
Nửa tiếng sau, bà nhắn lại bảy chữ: “Mày là con cả trong nhà.”
Giây phút ấy, lần đầu tiên tôi ý thức một cách vô cùng rõ ràng rằng: Lần này, tôi không trốn được nữa.
Bởi vì họ đã lôi tôi ra tòa, và tôi bắt buộc phải trở về, để nói rõ ràng, trực tiếp những lời mà sáu năm trước tôi đã nuốt ngược vào trong.
**02**
Ngày ra tòa, tôi đành phải xin nghỉ nửa ngày trên hệ thống.
Tòa án nằm ở khu Giang Bắc, Trùng Khánh. Những bậc thềm đá trước cửa bị nắng chiếu đến bạc phếch, vài con chim sẻ xám nhảy nhót qua lại.
Bố mẹ đến trước tôi, trốn trong bóng râm bên hông cửa.
Mẹ mặc một chiếc áo khoác dạ đã bạc màu, chải đầu bóng mượt không một sợi tóc rối; bố chắp tay sau lưng, mặt đen như sắp có sấm sét.
Ánh mắt chúng tôi chạm nhau, ai nấy đều trầm mặc, không ai mở lời trước.
“Mày cũng chịu vác mặt đến cơ à.” Bố lên tiếng, giọng điệu mang theo sự mỉa mai khó tả.
Tôi nhếch khóe môi: “Là bố mẹ kiện tôi đến đây, tôi có thể không đến sao?”
Mắt mẹ lập tức đỏ hoe: “Nếu không phải mày vứt bỏ gia đình không lo, thì mọi chuyện có đến nông nỗi này không?”
Tôi không đáp lại. Sáu năm không gặp, sự khách sáo cũng trở nên thừa thãi, nói sao cũng giống như đang diễn kịch.
Trong phòng xử án rất tĩnh lặng, chiếc ghế băng dài bằng gỗ mòn bóng, ngoài cửa sổ thỉnh thoảng vẳng vào một hai tiếng còi xe.
Lúc thư ký tòa đối chiếu thông tin, giọng bố đặc biệt lớn, như thể hận không thể cho cả căn phòng đều nghe thấy.
“Lâm Kiến Quốc, nguyên đơn.”
“Chu Hồng, nguyên đơn.”
“Lâm Tri Hạ, bị đơn.”
Nghe đến tên mình, tim tôi vẫn thắt lại, như bị ai đó búng nhẹ một cái.
Đến phần trình bày, mẹ lên tiếng trước.
Bà rút từ trong túi ra một xấp giấy tờ đã chuẩn bị sẵn, đưa từng tờ đến trước mặt thẩm phán, giọng mang theo tiếng khóc nghẹn ngào: “Thưa thẩm phán, chúng tôi đã già rồi, lương hưu của hai vợ chồng gộp lại một tháng chưa đến sáu nghìn. Đứa trẻ năm tuổi phải đi mẫu giáo, phải ăn, phải mặc, phải khám bệnh, bây giờ cái gì cũng đắt đỏ, chúng tôi thực sự không gượng nổi nữa. Nó một tháng kiếm hơn năm mươi nghìn, bỏ ra ba mươi nghìn thì có quá đáng không?”
Bà vừa nói vừa lau nước mắt, giọng run run. Cái điệu bộ này tôi quá quen thuộc – từ nhỏ, chỉ cần bà nói như vậy, gần như tôi đều sẽ lùi bước.
Bố tiếp lời: “Sáu năm nay nó không về nhà lấy một chuyến, không đóng góp cho cái nhà này một xu. Bây giờ dư dả rồi, ngay cả em ruột cũng không nhận. Chúng tôi cũng là bước đường cùng, không còn cách nào khác mới phải kiện ra tòa.”
Bên hàng ghế dự khán có người xì xào: “Người trẻ bây giờ đúng là lòng dạ sắt đá.”
Tôi chằm chằm nhìn bố mẹ, nhất thời không diễn tả được là tức giận hay chua xót, trong lòng rối bời.
Đến lượt tôi, tôi đứng lên, cố gắng giữ giọng điệu bình ổn: “Thưa thẩm phán, tôi không từ chối thực hiện trách nhiệm. Tôi chỉ không đồng ý với con số ba mươi nghìn mà họ yêu cầu. Khi chưa làm rõ thu nhập và chi tiêu thực tế của gia đình, tôi không đồng ý gánh vác bất kỳ khoản chi phí nào cao hơn mức sống hợp lý một cách rõ ràng.”