Một đầu gậy vẫn còn dính máu trên bộ đồng phục của tôi.
Ông không bước tới đỡ tôi.
Ông thậm chí không nói một lời quan tâm.
Ông chỉ bực bội ném chiếc vòng trở lại giường.
Ông nói với tôi: “Con đừng trách mẹ con, bà ấy cũng không cố ý.”
Ông nói: “Ai mà chẳng có lúc hồ đồ.”
Ông nói: “Nếu mày giải thích rõ sớm thì tao cần gì nổi nóng?”
Tôi nghe những lời ông nói.
Phần xương gãy trong lồng ngực như lại đâm sâu thêm vào phổi.
Thẩm Xuân Nhân thấy tôi không nói gì, giọng cao lên một chút.
Ông nói: “Được rồi, giả chết cái gì.”
Ông nói: “Mau đứng dậy lau sạch máu dưới đất đi, nhìn xui xẻo quá.”
Tôi thử cử động ngón tay.
Cơn đau thấu tim khiến tôi ngất lịm ngay lập tức.
Khi tôi tỉnh lại, trời đã tối hẳn.
Tôi nằm trên chiếc ghế dài lạnh lẽo ngoài hành lang bệnh viện.
Không có giường bệnh.
Thẩm Xuân Nhân không nỡ bỏ ra mấy trăm tệ tiền viện phí.
Ông đang ngồi xổm ở cuối hành lang hút thuốc.
Bác sĩ trực đi tới, đập một tấm phim chụp trước mặt ông.
Bác sĩ nói: “Gãy ba cái xương sườn, trong đó có một cái suýt đâm vào phổi, anh làm cha kiểu gì vậy?”
Thẩm Xuân Nhân cười gượng, đưa thuốc lá cho bác sĩ.
Ông nói: “Thằng bé nghịch ngợm, ngã từ cầu thang xuống.”
Bác sĩ lạnh lùng đẩy tay ông ra, nói mau đi đóng tiền, phải nhập viện.
Thẩm Xuân Nhân sờ túi, cơ mặt giật giật.
Cuối cùng ông chỉ mua cho tôi một hộp thuốc giảm đau rẻ nhất.
Ông nói: “Con trai mà, phải cứng cáp chút, dưỡng là khỏi thôi.”
Đêm đó, tôi đau đến suốt đêm không chợp mắt trong hành lang.
Tôi nhìn những vết mốc loang lổ trên trần nhà.
Tôi tự nói với mình.
Thẩm Xuân Nhân không chỉ đánh gãy xương tôi.
Ông còn đập nát chút hy vọng cuối cùng tôi dành cho ông.
Ba tháng sau, tôi mới có thể miễn cưỡng đi lại.
Ngày xuất viện, Thẩm Xuân Nhân không đến.
Lý Mai gửi một tin nhắn.
Bà nói nhà đang tổ chức sinh nhật cho Thẩm Dao, không có thời gian đón tôi.
Bà nói tiện thể bảo tôi mua một cân sườn mang về.
Tôi nhìn dòng chữ trên điện thoại.
Tôi ném thẳng nó vào thùng rác trước cổng bệnh viện.
Tôi quay lại trường học.
Tôi tìm giáo viên chủ nhiệm nhận nốt khoản trợ cấp làm thêm ít ỏi cuối cùng.
Tôi không về cái nhà đó nữa.
Trên người tôi vẫn mặc bộ đồng phục cũ rách, vết máu không giặt sạch được.
Tôi mua tấm vé tàu hỏa ghế cứng rẻ nhất.
Tôi phải đi.
Đi thật xa.
Dù có chết ở bên ngoài.
Tôi cũng tuyệt đối không quay lại nơi được gọi là nhà ấy nữa.
Năm đó, tôi mười bảy tuổi.
Vết thương ba chiếc xương sườn, cứ mỗi ngày mưa lại âm ỉ đau đúng giờ.
Chúng là dấu ấn duy nhất trên cơ thể tôi.
Ghi lại “tình phụ tử sâu nặng” mà Thẩm Xuân Nhân ban cho tôi.
03
Tám năm.
Hơn hai nghìn chín trăm ngày.
Tôi sống như một cái bóng.
Ở thành phố phương Nam xa lạ này, tôi đã làm đủ mọi việc.
Tôi từng vác thép ở công trường.
Tôi từng giao đồ ăn trong các tòa nhà văn phòng.
Sau đó, dựa vào sự lì lợm và khả năng chịu đựng được rèn từ những trận đòn của Thẩm Xuân Nhân năm xưa.
Tôi bắt đầu tự kinh doanh.
Từ một quầy nhỏ, đến một cửa hàng tiện lợi, rồi đến công ty thương mại quy mô không nhỏ như bây giờ.
Tôi đổi tên.
Tôi tên là Thẩm Duệ.
Đứa con trai của Thẩm Xuân Nhân ngày xưa, đã chết từ buổi chiều oi bức đó.
Trong tám năm qua, số điện thoại của tôi đã đổi năm lần.
Tôi từ chối nhận bất kỳ tin tức nào về cái quê nhà ấy.
Nhưng số phận luôn thích đùa kiểu tàn nhẫn như vậy.
Họ hàng nhà họ Thẩm không biết từ đâu moi ra được cách liên lạc của tôi.
Khi bác cả gọi điện, tôi đang ngồi trong văn phòng sáng sủa xem báo cáo.
Đầu dây bên kia, giọng nói già nua, lúng túng.
Bác cả nói: “Tiểu Duệ à, là cháu phải không?”
Tôi không nói gì.
Bác cả thở dài, nói: “Ba cháu không ổn rồi.”
Ông nói: “Ung thư phổi giai đoạn cuối, đã di căn.”
Ông nói: “Thẩm Xuân Nhân nằm trên giường bệnh, đêm nào cũng gọi tên cháu.”
Ông nói: “Người sắp chết, lời nói cũng thiện hơn.”
Bác cả khóc rất to trong điện thoại.
Ông nói: “Thẩm Xuân Nhân hối hận rồi, ông ấy nói cả đời này có lỗi với cháu nhất.”
Ông nói: “Dù sao cũng là máu mủ ruột thịt, cháu về gặp ông ấy lần cuối đi.”
Tay tôi cầm cây bút vàng vẫn rất vững.
Vững đến mức không giống một người vừa nghe tin cha ruột sắp chết.
Tôi nhớ lại cảnh Thẩm Xuân Nhân vung gậy.
Tôi nhớ lại dáng vẻ ông ném chiếc vòng lên giường, bảo tôi đừng trách Lý Mai.
Tôi còn nhớ cảnh ông vì tiết kiệm tiền viện phí mà để tôi nằm trên ghế dài bệnh viện.
Máu mủ ruột thịt sao?
Máu của tôi, tám năm trước đã chảy cạn rồi.
Chảy hết trong cái nhà họ Thẩm đó…
Dòng máu ấy đã chảy trên nền phòng khách đầy vỏ hạt dưa của nhà họ Thẩm.
Tôi nói với bác cả: “Cháu biết rồi.”
Ở đầu dây bên kia, bác cả mừng rỡ, hỏi tôi khi nào thì tới nơi.
Ông nói sẽ tự lái xe đến đón tôi.
Ông nói: “Xuân Nhân mà thấy cháu, chắc chắn sẽ cầm cự thêm được mấy ngày.”
Tôi nói: “Không cần đón.”
Tôi nói: “Dạo này cháu rất bận, thật sự không thể thu xếp được.”
Tôi nói: “Cháu sẽ gửi một thứ về.”
Bác cả sững người.
Ông chắc là nghĩ tôi sẽ gửi tiền.
Ông ở đầu dây không ngừng lẩm bẩm.
Ông nói: “Tiền bạc không quan trọng, người về là được.”
Ông nói: “Xuân Nhân bây giờ không thiếu gì, chỉ thiếu được gặp cháu một lần.”
Tôi khẽ cười lạnh.
Ông ta không thiếu gì sao?
Còn Lý Mai thì sao?
Người đàn bà vì một chiếc vòng vàng mà vu oan cho tôi.
Còn Thẩm Dao thì sao?
Đứa em gái cùng cha khác mẹ đứng ở cửa vừa xem kịch vừa ăn hạt dưa.
Bọn họ còn chưa vắt kiệt Thẩm Xuân Nhân sao?
Bác cả nói thêm vài câu, đại khái là kể về tình trạng hiện tại của Thẩm Xuân Nhân.
Nói ông ta gầy trơ xương.
Nói ông ta đau đến lăn lộn trên giường.
Tôi kiên nhẫn nghe hết.
Tôi không ngắt lời.
Tôi phát hiện ra, hóa ra nghe Thẩm Xuân Nhân chịu đau khổ…
Trong lòng tôi lại cảm thấy một sự bình tĩnh chưa từng có.
Sau khi cúp điện thoại.
Tôi mở cửa sổ.
Bên ngoài vừa hay đang mưa.
Hơi ẩm len qua khe cửa tràn vào.
Lồng ngực tôi—
Nơi ba chiếc xương sườn từng bị đánh gãy—lại bắt đầu đau âm ỉ, nhói buốt.
Đó là ký ức của cơ thể.
Nó đang nhắc tôi.
Dù đã qua tám năm, có những món nợ vĩnh viễn không thể trả hết.